Monday, September 16, 2019


Laulya

Ước vọng mở mang hiểu biết của mình sau khi đắc quả yoga thần bí, hoặc hòa vào sự tồn tại của Brahman, hay có được sự phong lưu vật chất mà sự dư dật này cho phép làm thỏa mãn tất cả ý thích của chúng ta cũng là biểu hiện của tính hám lợi (laulya). Mọi cố gắng hòng thành đạt về vật chất, hoặc đạt sự tiến bộ tâm linh giả dối đều là sự cản trở trên con đường phát triển ý thức Krishna.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Tinh túy lời răn dạy”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

Desires to expand the mind by perfecting mystic yoga, merging in the existence of Brahman, or attaining whimsical material prosperity are all included within the category of greed (laulya). All attempts to acquire such material benefits or so-called spiritual advancement are impediments on the path of Kṛṣṇa consciousness.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, The Nectar of Instruction, BBT, 1975)

Стремление расширить свое сознание, достигнув совершенства в мистической йоге, слившись с бытием Брахмана или добившись материального благополучия, которое позволяет удовлетворять все наши прихоти, — суть проявление алчности (лаулйи). Любые попытки добиться материального успеха или мнимого духовного прогресса препятствуют развитию сознания Кришны.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Нектар наставлений». — М.: ББТ, 1993)

Sunday, September 15, 2019


Ảo ảnh trên sa mạc • A mirage in the desert

Tất thẩy mọi thứ xung quanh chúng ta thế giới vật chất đều chỉ là hình ảnh phản chiếu mờ nhạt của cái thực. Có thể ví điều đó với ảo ảnh trên sa mạc. Trong sa mạc không có nước, nhưng con hươu ngu ngốc vẫn chạy theo ảo ảnh, hy vọng được làm dịu cơn khát. Bản thân nước không phải là ảo ảnh, nhưng tìm nó sa mạc thì đúng là điều lầm lẫn mười mươi. Toàn bộ tiến bộ vật chất của nền văn minh là ảo ảnh trên sa mạc. Con hươu cố sức đuổi theo ảo ảnh, song ảo ảnh rời xa nó với tốc đ tương tự. Nước có thật, song cần tìm nó không phải là sa mạc. Theo kinh nghiệm quá khứ, chúng sinh nhớ được cái hạnh phúc thực sự khởi nguyên, cái nó đã trải qua khi sống thế giới tinh thần, nhưng vì giờ đây nó quên mất bản chất thực sự của mình nên nó tìm hạnh phúc tinh thần, hay hạnh phúc vĩnh cửu thế giới vật chất, nơi tìm được hạnh phúc đó là điều không thể.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Ánh quang Bhāgavata”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

Material manifestations of things are but shadowy representations of reality. They are compared to mirages in the desert. In the desert there is no water, but the foolish deer runs after illusory water in the desert to quench his thirsty heart. Water is not unreal, but the place where we seek it is misleading. The advancement of materialistic civilization is just like a mirage in the desert. The deer runs after water in the desert with full speed, and the illusion of water moves ahead at the same speed as the foolish deer. Water is not false, but we must not seek it in the desert. A living entity, by his past experience, remembers the real happiness of his original, spiritual existence, but since he has forgotten himself he seeks spiritual or permanent happiness in matter, although this is impossible to achieve.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, Light of the Bhāgavata, BBT, 1978)

Все, что окружает нас в материальном мире, представляет собой лишь тусклое отражение реальности. Это можно сравнить с миражом в пустыне. В пустыне нет воды, но глупая лань бежит за миражом, надеясь утолить жажду. Сама по себе вода — не иллюзия, но искать ее в пустыне — явное заблуждение. Весь материальный прогресс цивилизации — это мираж в пустыне. Лань бежит за миражом изо всех сил, но мираж отдаляется от нее с той же скоростью. Вода реальна, однако искать ее нужно не в пустыне. Живое существо по своему прошлому опыту помнит то истинное, изначальное счастье, которое оно испытывало, пребывая в духовном мире, однако, из-за того что теперь оно забыло свою истинную природу, оно ищет духовное, или вечное, счастье в мире материальном — там, где это счастье найти невозможно.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Свет Бхагаваты». — М.: ББТ)

Saturday, September 14, 2019


Có rất nhiều loại hình phục vụ • There are so many ways to serve

Sự phụng sự ngụ ý chỉ hoạt động nào đấy của con người khi phục vụ ai đó. Khi phục vụ Krishna, chúng ta kể cho mọi người nghe về Krishna, viết sách về Ngài, lau dọn đền thờ, mua thực phẩm và nấu các món ăn khác nhau dâng mời Ngài. Có rất nhiều loại hình phục vụ.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Đường tới toàn thiện”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

Service means activity, for when we serve someone, we are acting. When we serve Kṛṣṇa, we are preaching Kṛṣṇa consciousness, or cooking, or cleansing the temple, or distributing books about Kṛṣṇa, or writing about Him, or shopping for foodstuff to offer Him. There are so many ways to serve.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, Path of Perfection, BBT, 1989)

Служение подразумевает деятельность: когда человек кому-то служит, он занят тем или иным делом. Служа Кришне, мы проповедуем о Нем, распространяем или пишем книги о Кришне, убираем храм, покупаем продукты и готовим для Кришны различные блюда. Существует много видов служения.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Путь к совершенству». — М.: ББТ, 2000)

Tuesday, September 10, 2019

Thượng Đế là như vậy • That is God

Chúng ta có thể hiểu được Chân Lý Tuyệt Đối bằng cách tiếp thu tri thức từ vị thầy tinh thần, còn Krishna thì làm sao Ngài lại có tri thức hoàn hảo? Tại sao hiểu biết của Krishna lại tuyệt hảo đến thế? Tại vì Krishna hoàn toàn độc lập (svarāṭ). Ngài chẳng cần phải học ai cả. Những kẻ ngu muội và vô minh tìm đến tri thức māyāvādī để rồi biến mình thành Thượng Đế, còn Krishna là Thượng Đế mà chẳng cần phải học ai cả. Thượng Đế là như vậy.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Cơ hội thứ hai”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

We become cognizant of the Absolute Truth by accepting knowledge from a spiritual master, but how has Kṛṣṇa become perfectly cognizant? How is Kṛṣṇa’s knowledge so perfect? Because He is fully independent (svarāṭ). He does not have to learn anything from anyone. Some rascal may try to realize himself as God by taking knowledge from a Māyāvādī, but Kṛṣṇa is God without taking knowledge from anyone. That is God.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, A Second Chance: The Story of a Near-Death Experience, BBT, 1991)

Мы можем постичь Абсолютную Истину, Кришну, получив знание от духовного учителя, но каким образом Кришна обрел совершенное знание? Почему знание, которым обладает Кришна, непогрешимо? Потому что Кришна полностью независим — сварат. Ему ни у кого не нужно учиться. Глупцы и невежды, чтобы осознать себя Богом, обращаются за знанием к майявади, но Кришна уже Бог, и Ему не нужно было для этого учиться. Таков Бог.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Ещё один шанс». — М.: ББТ, 1998)

Friday, May 31, 2019


Không bắt buộc • Not force

Sau khi phán dạy “Bhagavad-gītā”, Krishna bảo Arjuna: yathecchasi tathā kuru — “Ngươi muốn thế nào thì ngươi có thể làm thế ấy”. Krishna cho Arjuna được tự do lựa chọn. Ngài không bắt buộc ai phục tùng cả. Nếu mà là bắt buộc thì sẽ chẳng có gì là hay ho. Nếu mà là bắt buộc thì sẽ chẳng được lâu bền.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, “Du hành trong bản ngã”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

After speaking Bhagavad-gītā Kṛṣṇa says to Arjuna, yathecchasi tathā kuru: “Whatever you like, you can do.” Kṛṣṇa gives this independence to Arjuna. He does not force one to surrender. That is not good. Something forced will not stand.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, Journey of Self Discovery, BBT, 1991)

Изложив «Бхагавад-гиту», Кришна говорит Арджуне:  йа тхеччхаси татха куру  — «Можешь поступать, как пожелаешь». Кришна предоставляет Арджуне свободу действий. Он не навязывает Свою волю. В принуждении нет ничего хорошего. То, что навязано силой, недолговечно.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Путешествие вглубь себя». — М.: ББТ, 1997)

Tuesday, May 28, 2019


Ý thức Krishna là gì? • What is Kṛṣṇa consciousness?


Bà Nixon: Câu hỏi đầu tiên của tôi là một câu hỏi rất căn bản. Ý thức Krishna là gì?
Śrīla Prabhupāda: Krishna có nghĩa là “Thượng Đế”. Tất cả chúng ta đều gắn bó khăng khít với Ngài bởi Ngài là đức cha khởi thủy của chúng ta. Nhưng chúng ta đã quên mất những quan hệ tương giao này. Khi chúng ta suy ngẫm những câu hỏi: “Mình có quan hệ gì với Thượng Đế nhỉ? Mục đích cuộc sống là gì?” thì chúng ta được gọi là người có ý thức Krishna.
(А. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Khoa học tự nhận thức. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

Ms. Nixon: My first question is very basic. What is Kṛṣṇa consciousness?
Śrīla Prabhupāda: Kṛṣṇa means God. We are all intimately connected with Him because He is our original father. But we have forgotten this connection. When we become interested in knowing, “What is my connection with God? What is the aim of life?” then we are called Kṛṣṇa conscious.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, The Science of Self-Realization, BBT, 1977)

Мисс Никсон. Мой первый вопрос — очень фундаментальный. Что такое сознание Кришны?
Шрила Прабхупада. Кришна — значит «Бог». Все мы тесно связаны с Ним, так как Он — наш изначальный отец. Но мы забыли об этих взаимоотношениях. Когда мы задумываемся над вопросами: «Каковы мои взаимоотношения с Богом? Какова цель жизни?», — нас называют сознающими Кришну.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Наука самоосознания», ББТ, 1991)

Tuesday, May 21, 2019


Cho Krishna • For Krishna

Krishna là chủ nhân của mọi thứ. Ngài là đấng tận hưởng mọi thứ và thành quả của mọi hoạt động đều thuộc về Ngài. Thực sai lầm khi cho rằng thành quả lao động của chúng ta thuộc về chúng ta. Nhất thiết phải hiểu rằng toàn bộ kết quả hoạt động của chúng ta rốt cục đều dành cho Krishna.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Đường tới với Kṛṣṇa”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2013)

Kṛṣṇa is the proprietor of everything, the ultimate beneficiary and the receiver of the results of everything. We may consider ourselves to be the proprietors of the fruits of our labor, but this is a misconception. We must come to understand that Kṛṣṇa is the ultimate proprietor of the fruits of all our works.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, On the Way to Kṛṣṇa, BBT, 1983)

Кришна — владыка всего сущего. Он — тот, кто наслаждается всем и кому принадлежат плоды любой деятельности. Было бы ошибкой считать, что плоды нашего труда принадлежат нам. Необходимо понять, что результаты всей нашей деятельности в конечном счете предназначены для Кришны.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «На пути к Кришне», ББТ, 1998)

Thursday, May 16, 2019


Toàn thiện tinh thần • Spiritual perfection

Quá trình truyền đạt tri thức tinh thần bắt đầu lúc chúng ta thiết lập mối quan hệ siêu tuyệt với vị thầy tinh thần. Các tập “Upaniṣad” và các cuốn Kinh tương tự nói rằng con người cần với lòng tôn kính và sùng mộ phủ phục xuống chân vị thầy tinh thần, người tinh thông tất cả Thánh Kinh và hoàn toàn thấu hiểu khoa học siêu tuyệt. Để hiểu khoa học siêu tuyệt một cách hoàn hảo, cần nhập vào hệ các vị thầy tinh thần, noi gương các tôn sư trong tu tập tâm linh, nắm vững văn hóa của họ và học tập ở họ. Cái nhà lãnh đạo chuyên nghiệp của các tổ chức và hiệp hội tâm linh khác nhau thường còn xa mới đạt các tiêu chuẩn toàn thiện này và không có các phẩm chất mà vị thầy tinh thần phải có. Bởi thế cho nên việc tìm đến các vị thầy chuyên nghiệp đó vì hình thức hay vì phong tục là việc vô nghĩa. Không qua rèn luyện và tu tập tinh thần thì không bao giờ chúng ta có thể đắc quả toàn thiện tinh thần.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, “Thông điệp siêu nghiệm”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2013)

The process of initiation begins from the date when we establish our transcendental relationship with the spiritual master. In the Upaniṣads and allied scriptures, it is ordained that one must approach with awe and reverence the feet of a spiritual master who is well versed in all the scriptures and who has attained perfection in transcendental knowledge. To attain perfection in transcendental knowledge is to accept the disciplic succession, the spiritual line, by culture, practice, and education in that line. The professional heads of various spiritual societies or communities often may not have attained to this standard of spiritual perfection and so may not possess the qualifications required for being a spiritual master. It is therefore no use to approach such professional spiritual masters as a matter of formality or custom. Attainment of spiritual perfection can never be possible without undergoing spiritual discipline.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, Message of Godhead, BBT, 1993)

Наше духовное посвящение начинается тогда, когда мы устанавливаем трансцендентные отношения с духовным учителем. В Упанишадах и других подобных писаниях говорится, что человек должен с чувством почтения и благоговения припасть к стопам духовного учителя, который хорошо знает все писания и в совершенстве постиг духовную науку. Чтобы постичь эту науку в совершенстве, необходимо примкнуть к цепи духовных учителей и следовать их духовной практике, усвоить их культуру и учиться у них. Профессиональные руководители различных духовных организаций и обществ нередко бывают далеки от такого совершенства и не обладают качествами, которыми должен обладать духовный учитель. Поэтому обращаться к подобным профессиональным наставникам только ради того, чтобы соблюсти формальность или отдать дань обычаю, нет никакого смысла. Духовное совершенство недостижимо для тех, кто не прошел духовного обучения.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Послание Бога». — М.: ББТ, 2009)

Saturday, September 8, 2018

Cực lạc • Highest pleasure

Cái tên Krishna mà chúng tôi nói đến không hề mang tính chất giáo phái. Krishna nghĩa là cực lạc và các bộ Kinh Veda khẳng định rằng Đấng Tối Cao là vựa chứa, là kho báu của mọi phúc lạc.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Dẫn luận Bhagavad-gītā nguyên nghĩa”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2013)

When we mention the name Krishna, we do not refer to any sectarian name. Kṛṣṇa means the highest pleasure, and it is confirmed that the Supreme Lord is the reservoir or storehouse of all pleasure.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Introduction to Bhagavad-gītā As It Is)

Называя Господа Кришной, мы употребляем Его имя не в каком-то сектантском значении. Санскритское слово кришна означает «высшее наслаждение», и священные писания подтверждают, что Верховный Господь является источником, или средоточием, всего наслаждения.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, Предисловие к «Бхагавад-гите как она есть»)

我們在提到奎師那這個名字時,並不是指任何宗派的名字。奎師那的意思是最高的快樂。
(A.C.巴克提韋丹塔.斯瓦米.帕布帕德, 《博伽梵歌原意》,導言)

Wednesday, August 29, 2018


Đạo lý Veda • Vedic wisdom

Nhược điểm vật chất không cho mắt thường nhìn rõ chân tướng của sự vật. Không nghe theo nguồn gốc uy tín bề trên thì không thể có được khả năng nhìn nhận thực sự. Nguồn gốc uy tín tối thượng là đạo lý Veda do chính Đấng Tối Cao phán dạy. Các chân lý Veda được truyền theo hệ chân truyền môn phái do Đấng Tối Cao truyền cho Thần Brahmā, Thần Brahmā truyền cho đại chí thánh Nārada, đại chí thánh Nārada truyền cho hiền giả Vyāsa, còn Đức Vyāsa thì truyền cho muôn vàn môn đệ của ngài. Thời xưa người ta không cần phải chép Kinh Veda vì con người bấy giờ sáng dạ hơn và có trí nhớ tốt hơn. Chỉ cần một lần nghe chân sư phán dạy là họ tuân thủ được ngay.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Śrī Īśopaniṣad — Học thuyết Kinh Veda”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2013)

Due to material defects, the naked eye cannot see anything properly. One cannot see properly unless one has heard from a superior source, and the highest source is the Vedic wisdom, which is spoken by the Lord Himself. Vedic truths are coming in disciplic succession from the Lord to Brahmā, from Brahmā to Nārada, from Nārada to Vyāsa, and from Vyāsa to many of his disciples. Formerly there was no need to record the messages of the Vedas, because people in earlier ages were more intelligent and had sharper memories. They could follow the instructions simply by hearing once from the mouth of a bona fide spiritual master.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Śrī Īśopaniṣad, BBT, 1993)

Материальные недостатки не дают невооруженному глазу увидеть истинную природу вещей. Не выслушав высших авторитетов, невозможно обрести истинное видение. Самым высшим авторитетом является ведическая мудрость, которая поведана Самим Господом. Ведические истины передаются по цепи ученической преемственности, начинающейся с Господа, который поведал их Брахме, Брахма – Нараде, Нарада – Вьясе, а Вьяса – своим многочисленным ученикам. Прежде не было необходимости записывать Веды, так как в древние времена люди обладали более крепким умом и памятью. Им достаточно было однажды услышать наставления из уст учителя, чтобы потом следовать им.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Шри Ишопанишад», ББТ, 1991)

Tuesday, August 21, 2018


Sức mạnh thần bí • Mystic potency

Sự khác nhau giữa Thượng Đế và tôi biểu hiện ở chỗ tôi cũng có những khả năng như ở Thượng Đế, nhưng chỉ ở mức hạn chế. Tôi chỉ có thể sản sinh ra một số lượng nhỏ các chất hóa học, còn Thượng Đế thì sản sinh ra chúng với số lượng khổng lồ. Tôi có thể sản sinh ra một chút nước dưới dạng mồ hôi, còn Thượng Đế có thể tạo nên biển cả. Chỉ cần phân tích một giọt nước biển là đủ để xác định thành phần tính chất của toàn bộ đại dương. Từ đó suy ra rằng chúng sinh là phần nhỏ bé gắn bó khăng khít với Thượng Đế, bởi thế cho nên khi nghiên cứu chúng sinh, chúng ta có thể bắt đầu hiểu được Thượng Đế. Thượng Đế có sức mạnh thần bí vĩ đại. Sức mạnh thần bí của Ngài tác động ngay tức thì trong một khoảnh khắc như máy chạy bằng điện vậy. Một số máy móc hoạt động nhờ vào điện năng và chúng được thiết kế hoàn hảo tới mức chỉ cần ấn nút một cái là chúng chạy. Tương tự như vậy, Thượng Đế phán: “Sẽ có thế giới”, và thế là quá trình tạo lập bắt đầu. Nếu xem xét hoạt động của thiên nhiên theo quan điểm đó thì nó hoàn toàn không khó hiểu. Thượng Đế có những năng lượng kỳ lạ tới mức Ngài chỉ cần ra lệnh và thế là quá trình sáng tạo được bắt đầu ngay lập tức.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Sự sống bắt nguồn từ sự sống”. — HN, NXB DT, 2011)

The difference between God and me is that although I have the same potencies as God, I can produce only a small quantity of chemicals, whereas He can produce enormous quantities. I can produce a little water in the form of perspiration, but God can produce the seas. Analysis of one drop of seawater gives you the qualitative analysis of the sea, without any mistake. Similarly, the ordinary living being is part and parcel of God, so by analyzing the living beings we can begin to understand God. In God there is great mystic potency. God’s mystic potency is working swiftly, exactly like an electric machine. Some machines operate by electrical energy, and they are so nicely made that all the work is done simply by pushing a button. Similarly, God said, “Let there be creation,” and there was creation. Considered in this way, the workings of nature are not very difficult to understand. God has such wonderful potencies that the creation, on His order alone, immediately takes place.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Life Comes From Life, BBT, 1997)

Разница между Богом и мной в том, что я обладаю теми же возможностями, что и Бог, но только в ограниченной степени. Я могу производить только небольшое количество химических веществ, тогда как Он производит их в колоссальных количествах. Я могу создать только немного воды в виде пота, но Бог может создавать океаны. Достаточно сделать анализ одной капли морской воды, чтобы определить качественный состав всего моря. По аналогии с этим, живое существо представляет собой неотъемлемую часть Бога, поэтому, изучая живых существ, мы можем начать понимать Бога. Бог обладает огромной мистической силой. Его мистическая сила обладает мгновенным действием, как электрическая машина. Некоторые машины работают с помощью электрической энергии и устроены так совершенно, что начинают работать от одного нажатия кнопки. Подобно этому, Бог сказал: «Да будет мир», – и процесс творения начался. Если посмотреть на деятельность природы с этой точки зрения, то ее будет совсем не трудно понять. Бог обладает такими удивительными энергиями, что стоит Ему только повелеть, как тут же начинается процесс творения.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Жизнь происходит из жизни», ББТ, 1991)

Friday, August 17, 2018


Bằng nhiều cách • In so many ways

Ca ngợi Đấng Tối Cao qua việc tụng niệm mantra (đọc: mantơra) Hare Krishna là phương pháp chủ yếu của bhakti-yoga. Những linh hồn vĩ đại, những người đã thấu hiểu bản chất của Thượng Đế, sự giáng thế của Ngài và sứ mạng của Ngài luôn ca tụng Ngài bằng nhiều cách.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, A. C. “Rāja-vidyā — Đại Huệ Vương”. — HN, NXB DT, 2011)

That glorification is this process of bhakti-yoga, the chanting of Hare Kṛṣṇa. The great souls, understanding the nature of God, His descent and His mission, glorify Him in so many ways.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Rāja-vidyā: The King of Knowledge, BBT, 1996)

Прославление Господа — повторение мантры Харе Кришна — является основой метода бхакти-йоги. Великие души, которые постигли природу Бога и Его пришествия в этот мир и поняли смысл Его миссии, прославляют Его всеми возможными способами.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Раджа-видья ― царь знания», ББТ, 1998)

Sunday, August 12, 2018


Chẳng mất gì cả • There is no loss

Tục ngữ có câu: “Thất bại là mẹ của thành công”. Điều này đặc biệt liên quan tới cuộc sống tinh thần, nơi chúng ta không được để thất bại làm nản lòng. Krishna quả quyết rằng kể cả khi nhà yoga bị thất bại thì ông ta cũng chẳng mất gì cả ở kiếp này lẫn kiếp sau. Người đã quyết tâm bước lên con đường toàn thiện tinh thần tốt lành sẽ không bao giờ bị thất bại hoàn toàn.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Quả toàn thiện của yoga”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2011)

There is the famous proverb that “failure is the pillar of success.” In the spiritual life especially, failure is not discouraging. Kṛṣṇa very clearly states that even if there is failure, there is no loss either in this world or in the next. One who takes to this auspicious line of spiritual culture is never completely vanquished.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, The Perfection of Yoga, BBT, 1996)

Известная пословица гласит: «В основе успеха лежит тысяча неудач». Это особенно касается духовной жизни, где неудача не должна повергать нас в уныние. Кришна недвусмысленно утверждает, что, даже если йогу и случается потерпеть неудачу, он ничего не теряет ни в этой жизни, ни в следующей. Тот, кто решил встать на благой путь духовного совершенствования, никогда не познает полного поражения.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Совершенство йоги», ББТ, 1993)

Friday, August 10, 2018


Luôn ở bên chúng ta • Always with us

Krishna và thánh danh của Ngài không khác nhau, vương quốc siêu tuyệt của Ngài cũng không khác với Ngài. Chúng ta có thể giao tiếp với Krishna qua âm thanh này. Chẳng hạn như chúng ta vừa đi vừa niệm Hare Krishna thì chúng ta sẽ thấy là Krishna đi cùng chúng ta giống như khi nhìn lên mặt trăng, chúng ta thấy dường như là nó cũng chuyển động cùng chúng ta. Nếu chúng ta có thể thấy dường như năng lượng cấp thấp của Krishna chuyển động cùng chúng ta thì lẽ nào đích thân Krishna lại không ở bên chúng ta khi chúng ta tụng niệm thánh danh Ngài? Ngài sẽ luôn ở bên chúng ta, nhưng để được bầu bạn cùng Ngài, chúng ta cần có những phẩm chất nhất định. Song, nếu lúc nào những ý nghĩ về Krishna cũng thu hút toàn bộ tâm trí chúng ta thì có thể tin chắc rằng Krishna sẽ luôn ở bên chúng ta.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Bên kia lề sinh tử”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2011)

Kṛṣṇa and His name are nondifferent, and Kṛṣṇa and His transcendental abode are also nondifferent. By sound vibration we can have Kṛṣṇa associate with us. If, for instance, we chant Hare Kṛṣṇa on the street, we will see that Kṛṣṇa is going with us, just as when we look up and see the moon overhead, we perceive that it is also going with us. If Kṛṣṇa’s inferior energy may appear to go with us, is it not possible for Kṛṣṇa Himself to be with us when we are chanting His names? He will keep us company, but we have to qualify to be in His company. If, however, we are always merged in the thought of Kṛṣṇa, we should rest assured that Kṛṣṇa is always with us.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Beyond Birth and Death. — BBT, 1998)

Кришна и Его имя неотличны друг от друга, и трансцендентная обитель Кришны также неотлична от Него. С помощью звуковой вибрации мы можем общаться с Кришной. Повторяя Харе Кришна, например, на улице, мы обнаружим, что Кришна идет вместе с нами. Когда мы смотрим вверх, на луну, то видим, что она тоже как бы движется вместе с нами. Если нам может показаться, что низшая энергия Кришны движется вместе с нами, то разве не может Сам Кришна быть с нами, когда мы повторяем Его имена? Он все время будет с нами, но для того, чтобы находиться в Его обществе, мы должны обладать определенными качествами. Однако если мы всегда поглощены размышлениями о Кришне, то можем быть уверены, что Кришна всегда с нами.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Вне рождения и смерти». — М.: ББТ, 1999)

크리쉬나님과 그분의 성함은 다르지 않으며, 크리쉬나님과 그분의 영적 거주지 또한 다르지 않다. 우리는 음향 진동을 통해서 크리쉬나님과 교제할 있고, 그분도 우리와 교제하실 있을 것이다. 예를 들어, 달을 올려 봤을 달이 우리와 함께 오는 것처럼 보이듯, 우리가 길거리에서 하레 크리쉬나를 찬송할 , 크리쉬나님이 함께 오고 있으시다는 것을 있을 것이다. 열등한 에너지(마야) 우리와 함께 있는 보인다면, 크리쉬나님의 성함을 찬송할 그분이 우리와 계신다는 것이 불가능하겠는가? 크리쉬나님은 우리를 동반해 주실 거다. 허나, 그분의 동반자가 되기 위해서는 우리가 자격을 갖춰야 한다. 우리가 크리쉬나님에 대한 생각에 몰입해 있다면, 크리쉬나님이 항상 우리와 함께 계시다고 안심해도 된다.
(에이 박티베단타 스와미 프라부파다, 생사(生死)를넘어서BBT, 2010)

Thursday, August 9, 2018


Tôn giáo vĩnh cửu • The eternal religion

Bhakti-yoga là tôn giáo vĩnh cửu. Ở thời đại mà sự thống trị của khoa học duy vật lan sang cả giáo lý tín ngưỡng thì việc xem xét các nguyên tắc của tôn giáo vĩnh cửu này theo quan điểm của nhà khoa học hiện đại sẽ rất có ích. Đến cả tiến sĩ S. Radhakrishnan trong đại hội tôn giáo toàn thế giới cũng đã công nhận rằng nền văn minh hiện đại sẽ không tiếp nhận tôn giáo chừng nào nó chưa được khoa học thừa nhận. Đến lượt mình, chúng tôi hân hạnh thông báo cho những người đang tìm kiếm chân lý rằng bhakti-yoga là tôn giáo vĩnh cửu của toàn thế giới dành cho mọi chúng sinh vì chúng gắn liền với Đấng Tối Cao bằng những nút thắt vĩnh cửu.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Du hành dễ dàng tới các hành tinh khác”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2011)

Bhakti-yoga is the eternal religion of man. At a time when material science predominates all subjects—including the tenets of religion—it would be enlivening to see the principles of the eternal religion of man from the viewpoint of the modern scientist. Even Dr. S. Radhakrishnan admitted at a world religion conference that religion will not be accepted in modern civilization if it is not accepted from a scientific point of view. In reply, we are glad to announce to the lovers of the truth that bhakti-yoga is the eternal religion of the world and is intended for all living beings, who are all eternally related with the Supreme Lord.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Easy Journey to Other Planets, BBT, 1998)

Бхакти-йога – это вечная религия человека. В век, когда материалистическая наука играет главенствующую роль в обществе, отодвинув на задний план все остальное, в том числе и догматы религии, было бы очень полезно взглянуть на принципы этой вечной религии глазами современного ученого. Даже д-р С. Радхакришнан на всемирном конгрессе религий признал, что современное общество не воспримет религию, пока она не будет признана наукой. В свою очередь мы рады сообщить тем, кто ищет истину, что бхакти-йога – это вечная религия всего мира, предназначенная для всех живых существ, связанных с Верховным Господом вечными узами.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Легкое путешествие на другие планеты», ББТ, 1990)

Wednesday, August 8, 2018


Vĩnh cửu, trường tồn và khởi thủy • Eternal, ever-existing and primeval

Phần vô cùng nhỏ bé của Linh Hồn Tối Cao không khác với Đấng Tối Cao về chất và không phải chịu sự biến đổi mà thân thể phải chịu. Đôi khi, linh hồn được gọi là cái bất biến hay kūṭa-stha. Cơ thể trải qua sáu dạng biến đổi khi nó lọt lòng mẹ, tồn tại trong một khoảng thời gian, lớn lên, tạo ra sản phẩm phụ, dần dần già đi và cuối cùng thì trở về cõi hư vô. Còn linh hồn thì không chịu những thay đổi đó. Linh hồn vô sinh, nhưng bởi vì nó nhận cơ thể vật chất nên cơ thể này được sinh ra. Linh hồn ở trong cơ thể không sinh ra và không chết đi. Cái gì có sinh thì có tử, còn linh hồn thì bởi vì nó vô sinh nên nó không có cả quá khứ, hiện tại, lẫn tương lai. Nó vĩnh cửu, trường tồn và khởi thủy. Nói cách khác, không thể xác định được lịch sử phát sinh của nó. Hành động tương tự như với cơ thể, chúng ta cố tìm ngày sinh tháng đẻ và các đặc trưng khác của linh hồn. Khác với cơ thể, linh hồn không bao giờ già đi. Chính vì thế mà người được gọi là cụ già cảm thấy mình như đứa trẻ thơ hay như trang thiếu niên. Những thay đổi diễn ra đối với cơ thể không hề động chạm tới linh hồn. Linh hồn không bao giờ héo tàn như cây cối hay bất cứ thứ gì vật chất. Nó cũng không tạo ra sản phẩm phụ. Sản phẩm phụ của cơ thể hay con cái chính là những linh hồn cá thể khác và chúng ta coi chúng là con chỉ là vì chúng có liên hệ với cơ thể của chúng ta. Cơ thể phát triển nhờ sự hiện diện của linh hồn, còn bản thân linh hồn thì chẳng bao giờ sinh sản và bị thay đổi. Do đó, linh hồn không chịu sáu kiểu biến đổi như ở cơ thể vật chất.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Bhagavad-gītā Nguyên Nghĩa”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2010)

Qualitatively, the small atomic fragmental part of the Supreme Spirit is one with the Supreme. He undergoes no changes like the body. Sometimes the soul is called the steady, or kūṭa-stha. The body is subject to six kinds of transformations. It takes its birth from the womb of the mother’s body, remains for some time, grows, produces some effects, gradually dwindles, and at last vanishes into oblivion. The soul, however, does not go through such changes. The soul is not born, but, because he takes on a material body, the body takes its birth. The soul does not take birth there, and the soul does not die. Anything which has birth also has death. And because the soul has no birth, he therefore has no past, present or future. He is eternal, ever-existing, and primeval—that is, there is no trace in history of his coming into being. Under the impression of the body, we seek the history of birth, etc., of the soul. The soul does not at any time become old, as the body does. The so-called old man, therefore, feels himself to be in the same spirit as in his childhood or youth. The changes of the body do not affect the soul. The soul does not deteriorate like a tree, nor anything material. The soul has no by-product either. The by-products of the body, namely children, are also different individual souls; and, owing to the body, they appear as children of a particular man. The body develops because of the soul’s presence, but the soul has neither offshoots nor change. Therefore, the soul is free from the six changes of the body.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Bhagavad-gītā As It Is, BBT, 1996)

По своим качествам бесконечно малая отделенная частица Высшего Духа неотлична от Всевышнего. Она не подвержена тем изменениям, через которые проходит материальное тело. Иногда душу называют неподвижной (кута-стха). Тело проходит через шесть видов изменений: оно появляется на свет из чрева матери, некоторое время существует, растет, производит себе подобных, постепенно увядает и, наконец, уходит в небытие. Однако душа не подвержена изменениям. Душу называют нерожденной, но, поскольку она находится в материальном теле, кажется, будто она рождается вместе с телом. На самом деле душа, находящяяся в теле, не рождается и не умирает. Все рожденное обречено на смерть. Но поскольку душа не рождается, для нее нет прошлого, настоящего и будущего. Она вечная, всегда существующая и изначальная. Иными словами, невозможно установить время ее появления на свет. Мы пытаемся определить, когда душа появилась на свет, только потому, что распространяем на нее телесные представления. В отличие от тела, душа никогда не стареет. Вот почему так называемые старики иногда ощущают себя детьми или юношами. Изменения, происходящие с телом, не затрагивают душу. Душа никогда не увядает, как это происходит с деревом или любым другим материальным предметом. Она также не производит на свет побочные продукты. Порождения нашего тела, наши дети, являются самостоятельными индивидуальными душами, и мы считаем их своими детьми только потому, что они связаны с нашим телом. Тело развивается благодаря присутствию души, но сама душа никого не производит на свет и не претерпевает никаких изменений. Таким образом, душа не подвержена шести видам изменений, через которые проходит тело.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Бхагавад-гита как она есть». — М.: ББТ, 1986)

至尊靈魂不可缺少的一部分--原子般的靈魂,在質上與至尊者是一樣的,不像軀體那樣要經歷許多變化。軀體經歷六種變化:從母親軀體的子宮出生,成長,維持原狀,繁殖,逐漸衰老,最後死亡。靈魂沒有這些變化,所以有時被稱為穩定者(kūṭa-stha)。靈魂不是誕生出來的,但他接受物質軀體,而物質軀體則有誕生。靈魂既不是在軀體出生時出生的,也不會隨著軀體的死亡而死亡。有出生就會有死亡。靈魂因為沒有誕生,所以沒有過去、現在和未來。他永存、不變、原始。也就是說,靈魂沒有從無到有的過程,但我們卻在軀體化概念的影響下尋找靈魂誕生的歷史。靈魂在任何時候都不會像軀體一樣變老,因此一個所謂的老人才會感到自己的精神狀態就像青年甚至兒童時一樣。軀體的變化不會影響靈魂。靈魂不會像樹木或任何物質事物一樣衰老、腐朽,也不會有副產品。軀體的副產品--孩子,其實也是不同的個體靈魂,他們只是由於軀體的關係才以子女的身份出現。身體的發育成長全靠有靈魂的存在,但靈魂卻既沒有副產品,也不變化。靈魂沒有軀體的六種變化。
(A.C.巴克提韋丹塔.斯瓦米.帕布帕德,《博伽梵歌原意》, BBT, 2007)

Tuesday, August 7, 2018


Đó không phải là hôn nhân • That is not marriage

Bob: Nhiều người thấy hôn nhân đã mất đi tính thiêng liêng của nó nên không muốn kết hôn, chính những người có gia đình cũng ly dị rất dễ dàng nếu như có điều gì đó không vừa ý họ.
Śrīla Prabhupāda: Vâng. Điều đó cũng đúng.
Bob: Bởi vậy nhiều người cho rằng hôn nhân chẳng có ý nghĩa gì cả.
Śrīla Prabhupāda: Không đâu, họ cho rằng hôn nhân là một hình thức hợp pháp hóa mại dâm. Quan điểm của họ là như vậy, nhưng đó không phải là hôn nhân.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Những câu hỏi đáp toàn thiện”. — HN, NXB Lao Động, 2008)

Bob: Many people see that even marriage is not sacred, so they find no desire to marry. Because people get married, and if things are not proper, they get a divorce so very easily—
Śrīla Prabhupāda: Yes, that also.
Bob:—that some people feel that to get married is not meaningful.
Śrīla Prabhupāda: No, their idea is that marriage is for legalized prostitution. They think like that, but that is not marriage.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Perfect Questions, Perfect Answers, BBT, 1998)

Боб: Многие видят, что брак уже утратил свою святость, и потому не хотят жениться, ведь и женатые очень легко расходятся, если их что-то не устраивает.
Шрила Прабхупада: Да, это тоже верно.
Боб: Поэтому многие считают, что жениться нет смысла.
Шрила Прабхупада: Нет, они считают, что брак это узаконенная форма проституции. Такова их точка зрения, но это не брак.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, Совершенные вопросы, совершенные ответы, ББТ, 1990)

Monday, August 6, 2018


Ý thức phát triển • Developed consciousness

Khát vọng tìm hiểu cội nguồn của tạo hóa là tự nhiên đối với tư duy triết học. Khi thấy những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời đêm, dĩ nhiên là chúng ta sẽ nghĩ: ai rắc chúng lên đó nhỉ. Những câu hỏi này là tự nhiên đối với con người bởi anh ta có ý thức phát triển hơn loài vật.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Śrīmad-Bhāgavatam”)

It is natural that a philosophical mind wants to know about the origin of the creation. At night he sees the stars in the sky, and he naturally speculates about their inhabitants. Such inquiries are natural for man because man has a developed consciousness which is higher than that of the animals.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Śrīmad-Bhāgavatam, BBT, 1972-77)

Для философского ума естественно стремление постичь источник творения. Когда в ночном небе мы видим звезды, мы, конечно, задумываемся над тем, кто их населяет. Такие вопросы естественны для человека, так как он обладает более развитым сознанием, чем животные.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Шримад-Бхагаватам». — М.: ББТ, 1990)