Saturday, September 8, 2018

Cực lạc • Highest pleasure

Cái tên Krishna mà chúng tôi nói đến không hề mang tính chất giáo phái. Krishna nghĩa là cực lạc và các bộ Kinh Veda khẳng định rằng Đấng Tối Cao là vựa chứa, là kho báu của mọi phúc lạc.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Dẫn luận Bhagavad-gītā nguyên nghĩa”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2013)

When we mention the name Krishna, we do not refer to any sectarian name. Kṛṣṇa means the highest pleasure, and it is confirmed that the Supreme Lord is the reservoir or storehouse of all pleasure.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Introduction to Bhagavad-gītā As It Is)

Называя Господа Кришной, мы употребляем Его имя не в каком-то сектантском значении. Санскритское слово кришна означает «высшее наслаждение», и священные писания подтверждают, что Верховный Господь является источником, или средоточием, всего наслаждения.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, Предисловие к «Бхагавад-гите как она есть»)

我們在提到奎師那這個名字時,並不是指任何宗派的名字。奎師那的意思是最高的快樂。
(A.C.巴克提韋丹塔.斯瓦米.帕布帕德, 《博伽梵歌原意》,導言)

Wednesday, August 29, 2018


Đạo lý Veda • Vedic wisdom

Nhược điểm vật chất không cho mắt thường nhìn rõ chân tướng của sự vật. Không nghe theo nguồn gốc uy tín bề trên thì không thể có được khả năng nhìn nhận thực sự. Nguồn gốc uy tín tối thượng là đạo lý Veda do chính Đấng Tối Cao phán dạy. Các chân lý Veda được truyền theo hệ chân truyền môn phái do Đấng Tối Cao truyền cho Thần Brahmā, Thần Brahmā truyền cho đại chí thánh Nārada, đại chí thánh Nārada truyền cho hiền giả Vyāsa, còn Đức Vyāsa thì truyền cho muôn vàn môn đệ của ngài. Thời xưa người ta không cần phải chép Kinh Veda vì con người bấy giờ sáng dạ hơn và có trí nhớ tốt hơn. Chỉ cần một lần nghe chân sư phán dạy là họ tuân thủ được ngay.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Śrī Īśopaniṣad — Học thuyết Kinh Veda”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2013)

Due to material defects, the naked eye cannot see anything properly. One cannot see properly unless one has heard from a superior source, and the highest source is the Vedic wisdom, which is spoken by the Lord Himself. Vedic truths are coming in disciplic succession from the Lord to Brahmā, from Brahmā to Nārada, from Nārada to Vyāsa, and from Vyāsa to many of his disciples. Formerly there was no need to record the messages of the Vedas, because people in earlier ages were more intelligent and had sharper memories. They could follow the instructions simply by hearing once from the mouth of a bona fide spiritual master.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Śrī Īśopaniṣad, BBT, 1993)

Материальные недостатки не дают невооруженному глазу увидеть истинную природу вещей. Не выслушав высших авторитетов, невозможно обрести истинное видение. Самым высшим авторитетом является ведическая мудрость, которая поведана Самим Господом. Ведические истины передаются по цепи ученической преемственности, начинающейся с Господа, который поведал их Брахме, Брахма – Нараде, Нарада – Вьясе, а Вьяса – своим многочисленным ученикам. Прежде не было необходимости записывать Веды, так как в древние времена люди обладали более крепким умом и памятью. Им достаточно было однажды услышать наставления из уст учителя, чтобы потом следовать им.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Шри Ишопанишад», ББТ, 1991)

Tuesday, August 21, 2018


Sức mạnh thần bí • Mystic potency

Sự khác nhau giữa Thượng Đế và tôi biểu hiện ở chỗ tôi cũng có những khả năng như ở Thượng Đế, nhưng chỉ ở mức hạn chế. Tôi chỉ có thể sản sinh ra một số lượng nhỏ các chất hóa học, còn Thượng Đế thì sản sinh ra chúng với số lượng khổng lồ. Tôi có thể sản sinh ra một chút nước dưới dạng mồ hôi, còn Thượng Đế có thể tạo nên biển cả. Chỉ cần phân tích một giọt nước biển là đủ để xác định thành phần tính chất của toàn bộ đại dương. Từ đó suy ra rằng chúng sinh là phần nhỏ bé gắn bó khăng khít với Thượng Đế, bởi thế cho nên khi nghiên cứu chúng sinh, chúng ta có thể bắt đầu hiểu được Thượng Đế. Thượng Đế có sức mạnh thần bí vĩ đại. Sức mạnh thần bí của Ngài tác động ngay tức thì trong một khoảnh khắc như máy chạy bằng điện vậy. Một số máy móc hoạt động nhờ vào điện năng và chúng được thiết kế hoàn hảo tới mức chỉ cần ấn nút một cái là chúng chạy. Tương tự như vậy, Thượng Đế phán: “Sẽ có thế giới”, và thế là quá trình tạo lập bắt đầu. Nếu xem xét hoạt động của thiên nhiên theo quan điểm đó thì nó hoàn toàn không khó hiểu. Thượng Đế có những năng lượng kỳ lạ tới mức Ngài chỉ cần ra lệnh và thế là quá trình sáng tạo được bắt đầu ngay lập tức.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Sự sống bắt nguồn từ sự sống”. — HN, NXB DT, 2011)

The difference between God and me is that although I have the same potencies as God, I can produce only a small quantity of chemicals, whereas He can produce enormous quantities. I can produce a little water in the form of perspiration, but God can produce the seas. Analysis of one drop of seawater gives you the qualitative analysis of the sea, without any mistake. Similarly, the ordinary living being is part and parcel of God, so by analyzing the living beings we can begin to understand God. In God there is great mystic potency. God’s mystic potency is working swiftly, exactly like an electric machine. Some machines operate by electrical energy, and they are so nicely made that all the work is done simply by pushing a button. Similarly, God said, “Let there be creation,” and there was creation. Considered in this way, the workings of nature are not very difficult to understand. God has such wonderful potencies that the creation, on His order alone, immediately takes place.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Life Comes From Life, BBT, 1997)

Разница между Богом и мной в том, что я обладаю теми же возможностями, что и Бог, но только в ограниченной степени. Я могу производить только небольшое количество химических веществ, тогда как Он производит их в колоссальных количествах. Я могу создать только немного воды в виде пота, но Бог может создавать океаны. Достаточно сделать анализ одной капли морской воды, чтобы определить качественный состав всего моря. По аналогии с этим, живое существо представляет собой неотъемлемую часть Бога, поэтому, изучая живых существ, мы можем начать понимать Бога. Бог обладает огромной мистической силой. Его мистическая сила обладает мгновенным действием, как электрическая машина. Некоторые машины работают с помощью электрической энергии и устроены так совершенно, что начинают работать от одного нажатия кнопки. Подобно этому, Бог сказал: «Да будет мир», – и процесс творения начался. Если посмотреть на деятельность природы с этой точки зрения, то ее будет совсем не трудно понять. Бог обладает такими удивительными энергиями, что стоит Ему только повелеть, как тут же начинается процесс творения.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Жизнь происходит из жизни», ББТ, 1991)

Friday, August 17, 2018


Bằng nhiều cách • In so many ways

Ca ngợi Đấng Tối Cao qua việc tụng niệm mantra (đọc: mantơra) Hare Krishna là phương pháp chủ yếu của bhakti-yoga. Những linh hồn vĩ đại, những người đã thấu hiểu bản chất của Thượng Đế, sự giáng thế của Ngài và sứ mạng của Ngài luôn ca tụng Ngài bằng nhiều cách.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, A. C. “Rāja-vidyā — Đại Huệ Vương”. — HN, NXB DT, 2011)

That glorification is this process of bhakti-yoga, the chanting of Hare Kṛṣṇa. The great souls, understanding the nature of God, His descent and His mission, glorify Him in so many ways.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Rāja-vidyā: The King of Knowledge, BBT, 1996)

Прославление Господа — повторение мантры Харе Кришна — является основой метода бхакти-йоги. Великие души, которые постигли природу Бога и Его пришествия в этот мир и поняли смысл Его миссии, прославляют Его всеми возможными способами.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Раджа-видья ― царь знания», ББТ, 1998)

Sunday, August 12, 2018


Chẳng mất gì cả • There is no loss

Tục ngữ có câu: “Thất bại là mẹ của thành công”. Điều này đặc biệt liên quan tới cuộc sống tinh thần, nơi chúng ta không được để thất bại làm nản lòng. Krishna quả quyết rằng kể cả khi nhà yoga bị thất bại thì ông ta cũng chẳng mất gì cả ở kiếp này lẫn kiếp sau. Người đã quyết tâm bước lên con đường toàn thiện tinh thần tốt lành sẽ không bao giờ bị thất bại hoàn toàn.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Quả toàn thiện của yoga”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2011)

There is the famous proverb that “failure is the pillar of success.” In the spiritual life especially, failure is not discouraging. Kṛṣṇa very clearly states that even if there is failure, there is no loss either in this world or in the next. One who takes to this auspicious line of spiritual culture is never completely vanquished.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, The Perfection of Yoga, BBT, 1996)

Известная пословица гласит: «В основе успеха лежит тысяча неудач». Это особенно касается духовной жизни, где неудача не должна повергать нас в уныние. Кришна недвусмысленно утверждает, что, даже если йогу и случается потерпеть неудачу, он ничего не теряет ни в этой жизни, ни в следующей. Тот, кто решил встать на благой путь духовного совершенствования, никогда не познает полного поражения.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Совершенство йоги», ББТ, 1993)

Friday, August 10, 2018


Luôn ở bên chúng ta • Always with us

Krishna và thánh danh của Ngài không khác nhau, vương quốc siêu tuyệt của Ngài cũng không khác với Ngài. Chúng ta có thể giao tiếp với Krishna qua âm thanh này. Chẳng hạn như chúng ta vừa đi vừa niệm Hare Krishna thì chúng ta sẽ thấy là Krishna đi cùng chúng ta giống như khi nhìn lên mặt trăng, chúng ta thấy dường như là nó cũng chuyển động cùng chúng ta. Nếu chúng ta có thể thấy dường như năng lượng cấp thấp của Krishna chuyển động cùng chúng ta thì lẽ nào đích thân Krishna lại không ở bên chúng ta khi chúng ta tụng niệm thánh danh Ngài? Ngài sẽ luôn ở bên chúng ta, nhưng để được bầu bạn cùng Ngài, chúng ta cần có những phẩm chất nhất định. Song, nếu lúc nào những ý nghĩ về Krishna cũng thu hút toàn bộ tâm trí chúng ta thì có thể tin chắc rằng Krishna sẽ luôn ở bên chúng ta.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Bên kia lề sinh tử”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2011)

Kṛṣṇa and His name are nondifferent, and Kṛṣṇa and His transcendental abode are also nondifferent. By sound vibration we can have Kṛṣṇa associate with us. If, for instance, we chant Hare Kṛṣṇa on the street, we will see that Kṛṣṇa is going with us, just as when we look up and see the moon overhead, we perceive that it is also going with us. If Kṛṣṇa’s inferior energy may appear to go with us, is it not possible for Kṛṣṇa Himself to be with us when we are chanting His names? He will keep us company, but we have to qualify to be in His company. If, however, we are always merged in the thought of Kṛṣṇa, we should rest assured that Kṛṣṇa is always with us.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Beyond Birth and Death. — BBT, 1998)

Кришна и Его имя неотличны друг от друга, и трансцендентная обитель Кришны также неотлична от Него. С помощью звуковой вибрации мы можем общаться с Кришной. Повторяя Харе Кришна, например, на улице, мы обнаружим, что Кришна идет вместе с нами. Когда мы смотрим вверх, на луну, то видим, что она тоже как бы движется вместе с нами. Если нам может показаться, что низшая энергия Кришны движется вместе с нами, то разве не может Сам Кришна быть с нами, когда мы повторяем Его имена? Он все время будет с нами, но для того, чтобы находиться в Его обществе, мы должны обладать определенными качествами. Однако если мы всегда поглощены размышлениями о Кришне, то можем быть уверены, что Кришна всегда с нами.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Вне рождения и смерти». — М.: ББТ, 1999)

크리쉬나님과 그분의 성함은 다르지 않으며, 크리쉬나님과 그분의 영적 거주지 또한 다르지 않다. 우리는 음향 진동을 통해서 크리쉬나님과 교제할 있고, 그분도 우리와 교제하실 있을 것이다. 예를 들어, 달을 올려 봤을 달이 우리와 함께 오는 것처럼 보이듯, 우리가 길거리에서 하레 크리쉬나를 찬송할 , 크리쉬나님이 함께 오고 있으시다는 것을 있을 것이다. 열등한 에너지(마야) 우리와 함께 있는 보인다면, 크리쉬나님의 성함을 찬송할 그분이 우리와 계신다는 것이 불가능하겠는가? 크리쉬나님은 우리를 동반해 주실 거다. 허나, 그분의 동반자가 되기 위해서는 우리가 자격을 갖춰야 한다. 우리가 크리쉬나님에 대한 생각에 몰입해 있다면, 크리쉬나님이 항상 우리와 함께 계시다고 안심해도 된다.
(에이 박티베단타 스와미 프라부파다, 생사(生死)를넘어서BBT, 2010)

Thursday, August 9, 2018


Tôn giáo vĩnh cửu • The eternal religion

Bhakti-yoga là tôn giáo vĩnh cửu. Ở thời đại mà sự thống trị của khoa học duy vật lan sang cả giáo lý tín ngưỡng thì việc xem xét các nguyên tắc của tôn giáo vĩnh cửu này theo quan điểm của nhà khoa học hiện đại sẽ rất có ích. Đến cả tiến sĩ S. Radhakrishnan trong đại hội tôn giáo toàn thế giới cũng đã công nhận rằng nền văn minh hiện đại sẽ không tiếp nhận tôn giáo chừng nào nó chưa được khoa học thừa nhận. Đến lượt mình, chúng tôi hân hạnh thông báo cho những người đang tìm kiếm chân lý rằng bhakti-yoga là tôn giáo vĩnh cửu của toàn thế giới dành cho mọi chúng sinh vì chúng gắn liền với Đấng Tối Cao bằng những nút thắt vĩnh cửu.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Du hành dễ dàng tới các hành tinh khác”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2011)

Bhakti-yoga is the eternal religion of man. At a time when material science predominates all subjects—including the tenets of religion—it would be enlivening to see the principles of the eternal religion of man from the viewpoint of the modern scientist. Even Dr. S. Radhakrishnan admitted at a world religion conference that religion will not be accepted in modern civilization if it is not accepted from a scientific point of view. In reply, we are glad to announce to the lovers of the truth that bhakti-yoga is the eternal religion of the world and is intended for all living beings, who are all eternally related with the Supreme Lord.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Easy Journey to Other Planets, BBT, 1998)

Бхакти-йога – это вечная религия человека. В век, когда материалистическая наука играет главенствующую роль в обществе, отодвинув на задний план все остальное, в том числе и догматы религии, было бы очень полезно взглянуть на принципы этой вечной религии глазами современного ученого. Даже д-р С. Радхакришнан на всемирном конгрессе религий признал, что современное общество не воспримет религию, пока она не будет признана наукой. В свою очередь мы рады сообщить тем, кто ищет истину, что бхакти-йога – это вечная религия всего мира, предназначенная для всех живых существ, связанных с Верховным Господом вечными узами.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Легкое путешествие на другие планеты», ББТ, 1990)

Wednesday, August 8, 2018


Vĩnh cửu, trường tồn và khởi thủy • Eternal, ever-existing and primeval

Phần vô cùng nhỏ bé của Linh Hồn Tối Cao không khác với Đấng Tối Cao về chất và không phải chịu sự biến đổi mà thân thể phải chịu. Đôi khi, linh hồn được gọi là cái bất biến hay kūṭa-stha. Cơ thể trải qua sáu dạng biến đổi khi nó lọt lòng mẹ, tồn tại trong một khoảng thời gian, lớn lên, tạo ra sản phẩm phụ, dần dần già đi và cuối cùng thì trở về cõi hư vô. Còn linh hồn thì không chịu những thay đổi đó. Linh hồn vô sinh, nhưng bởi vì nó nhận cơ thể vật chất nên cơ thể này được sinh ra. Linh hồn ở trong cơ thể không sinh ra và không chết đi. Cái gì có sinh thì có tử, còn linh hồn thì bởi vì nó vô sinh nên nó không có cả quá khứ, hiện tại, lẫn tương lai. Nó vĩnh cửu, trường tồn và khởi thủy. Nói cách khác, không thể xác định được lịch sử phát sinh của nó. Hành động tương tự như với cơ thể, chúng ta cố tìm ngày sinh tháng đẻ và các đặc trưng khác của linh hồn. Khác với cơ thể, linh hồn không bao giờ già đi. Chính vì thế mà người được gọi là cụ già cảm thấy mình như đứa trẻ thơ hay như trang thiếu niên. Những thay đổi diễn ra đối với cơ thể không hề động chạm tới linh hồn. Linh hồn không bao giờ héo tàn như cây cối hay bất cứ thứ gì vật chất. Nó cũng không tạo ra sản phẩm phụ. Sản phẩm phụ của cơ thể hay con cái chính là những linh hồn cá thể khác và chúng ta coi chúng là con chỉ là vì chúng có liên hệ với cơ thể của chúng ta. Cơ thể phát triển nhờ sự hiện diện của linh hồn, còn bản thân linh hồn thì chẳng bao giờ sinh sản và bị thay đổi. Do đó, linh hồn không chịu sáu kiểu biến đổi như ở cơ thể vật chất.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Bhagavad-gītā Nguyên Nghĩa”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2010)

Qualitatively, the small atomic fragmental part of the Supreme Spirit is one with the Supreme. He undergoes no changes like the body. Sometimes the soul is called the steady, or kūṭa-stha. The body is subject to six kinds of transformations. It takes its birth from the womb of the mother’s body, remains for some time, grows, produces some effects, gradually dwindles, and at last vanishes into oblivion. The soul, however, does not go through such changes. The soul is not born, but, because he takes on a material body, the body takes its birth. The soul does not take birth there, and the soul does not die. Anything which has birth also has death. And because the soul has no birth, he therefore has no past, present or future. He is eternal, ever-existing, and primeval—that is, there is no trace in history of his coming into being. Under the impression of the body, we seek the history of birth, etc., of the soul. The soul does not at any time become old, as the body does. The so-called old man, therefore, feels himself to be in the same spirit as in his childhood or youth. The changes of the body do not affect the soul. The soul does not deteriorate like a tree, nor anything material. The soul has no by-product either. The by-products of the body, namely children, are also different individual souls; and, owing to the body, they appear as children of a particular man. The body develops because of the soul’s presence, but the soul has neither offshoots nor change. Therefore, the soul is free from the six changes of the body.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Bhagavad-gītā As It Is, BBT, 1996)

По своим качествам бесконечно малая отделенная частица Высшего Духа неотлична от Всевышнего. Она не подвержена тем изменениям, через которые проходит материальное тело. Иногда душу называют неподвижной (кута-стха). Тело проходит через шесть видов изменений: оно появляется на свет из чрева матери, некоторое время существует, растет, производит себе подобных, постепенно увядает и, наконец, уходит в небытие. Однако душа не подвержена изменениям. Душу называют нерожденной, но, поскольку она находится в материальном теле, кажется, будто она рождается вместе с телом. На самом деле душа, находящяяся в теле, не рождается и не умирает. Все рожденное обречено на смерть. Но поскольку душа не рождается, для нее нет прошлого, настоящего и будущего. Она вечная, всегда существующая и изначальная. Иными словами, невозможно установить время ее появления на свет. Мы пытаемся определить, когда душа появилась на свет, только потому, что распространяем на нее телесные представления. В отличие от тела, душа никогда не стареет. Вот почему так называемые старики иногда ощущают себя детьми или юношами. Изменения, происходящие с телом, не затрагивают душу. Душа никогда не увядает, как это происходит с деревом или любым другим материальным предметом. Она также не производит на свет побочные продукты. Порождения нашего тела, наши дети, являются самостоятельными индивидуальными душами, и мы считаем их своими детьми только потому, что они связаны с нашим телом. Тело развивается благодаря присутствию души, но сама душа никого не производит на свет и не претерпевает никаких изменений. Таким образом, душа не подвержена шести видам изменений, через которые проходит тело.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Бхагавад-гита как она есть». — М.: ББТ, 1986)

至尊靈魂不可缺少的一部分--原子般的靈魂,在質上與至尊者是一樣的,不像軀體那樣要經歷許多變化。軀體經歷六種變化:從母親軀體的子宮出生,成長,維持原狀,繁殖,逐漸衰老,最後死亡。靈魂沒有這些變化,所以有時被稱為穩定者(kūṭa-stha)。靈魂不是誕生出來的,但他接受物質軀體,而物質軀體則有誕生。靈魂既不是在軀體出生時出生的,也不會隨著軀體的死亡而死亡。有出生就會有死亡。靈魂因為沒有誕生,所以沒有過去、現在和未來。他永存、不變、原始。也就是說,靈魂沒有從無到有的過程,但我們卻在軀體化概念的影響下尋找靈魂誕生的歷史。靈魂在任何時候都不會像軀體一樣變老,因此一個所謂的老人才會感到自己的精神狀態就像青年甚至兒童時一樣。軀體的變化不會影響靈魂。靈魂不會像樹木或任何物質事物一樣衰老、腐朽,也不會有副產品。軀體的副產品--孩子,其實也是不同的個體靈魂,他們只是由於軀體的關係才以子女的身份出現。身體的發育成長全靠有靈魂的存在,但靈魂卻既沒有副產品,也不變化。靈魂沒有軀體的六種變化。
(A.C.巴克提韋丹塔.斯瓦米.帕布帕德,《博伽梵歌原意》, BBT, 2007)

Tuesday, August 7, 2018


Đó không phải là hôn nhân • That is not marriage

Bob: Nhiều người thấy hôn nhân đã mất đi tính thiêng liêng của nó nên không muốn kết hôn, chính những người có gia đình cũng ly dị rất dễ dàng nếu như có điều gì đó không vừa ý họ.
Śrīla Prabhupāda: Vâng. Điều đó cũng đúng.
Bob: Bởi vậy nhiều người cho rằng hôn nhân chẳng có ý nghĩa gì cả.
Śrīla Prabhupāda: Không đâu, họ cho rằng hôn nhân là một hình thức hợp pháp hóa mại dâm. Quan điểm của họ là như vậy, nhưng đó không phải là hôn nhân.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Những câu hỏi đáp toàn thiện”. — HN, NXB Lao Động, 2008)

Bob: Many people see that even marriage is not sacred, so they find no desire to marry. Because people get married, and if things are not proper, they get a divorce so very easily—
Śrīla Prabhupāda: Yes, that also.
Bob:—that some people feel that to get married is not meaningful.
Śrīla Prabhupāda: No, their idea is that marriage is for legalized prostitution. They think like that, but that is not marriage.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Perfect Questions, Perfect Answers, BBT, 1998)

Боб: Многие видят, что брак уже утратил свою святость, и потому не хотят жениться, ведь и женатые очень легко расходятся, если их что-то не устраивает.
Шрила Прабхупада: Да, это тоже верно.
Боб: Поэтому многие считают, что жениться нет смысла.
Шрила Прабхупада: Нет, они считают, что брак это узаконенная форма проституции. Такова их точка зрения, но это не брак.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, Совершенные вопросы, совершенные ответы, ББТ, 1990)

Monday, August 6, 2018


Ý thức phát triển • Developed consciousness

Khát vọng tìm hiểu cội nguồn của tạo hóa là tự nhiên đối với tư duy triết học. Khi thấy những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời đêm, dĩ nhiên là chúng ta sẽ nghĩ: ai rắc chúng lên đó nhỉ. Những câu hỏi này là tự nhiên đối với con người bởi anh ta có ý thức phát triển hơn loài vật.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Śrīmad-Bhāgavatam”)

It is natural that a philosophical mind wants to know about the origin of the creation. At night he sees the stars in the sky, and he naturally speculates about their inhabitants. Such inquiries are natural for man because man has a developed consciousness which is higher than that of the animals.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Śrīmad-Bhāgavatam, BBT, 1972-77)

Для философского ума естественно стремление постичь источник творения. Когда в ночном небе мы видим звезды, мы, конечно, задумываемся над тем, кто их населяет. Такие вопросы естественны для человека, так как он обладает более развитым сознанием, чем животные.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Шримад-Бхагаватам». — М.: ББТ, 1990)

Sunday, August 5, 2018


Nhu cầu bất tự nhiên • Artificial needs

Nếu các nỗ lực của chúng ta không được dồn vào việc tìm hiểu Chân Lý Tuyệt Đối thì chúng ta càng ngày càng dồn chúng nhiều hơn vào việc làm thỏa mãn các nhu cầu bất tự nhiên của mình. Người đang tiến bước trên con đường tâm linh không được phung phí sức lực của mình để đạt các mục đích trần tục.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Tinh túy lời răn dạy”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

If our endeavor is not to inquire about the Absolute Truth, we will simply increase our endeavor to satisfy our artificial needs. A spiritual aspirant should avoid mundane endeavor.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, The Nectar of Instruction, BBT, 1975)

Если наши усилия не направлены на то, чтобы вопрошать об Абсолютной Истине, мы прилагаем все больше и больше усилий к тому, чтобы удовлетворять свои искусственные потребности. Идущий по духовному пути не должен тратить свои силы на достижение мирских целей.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Нектар наставлений». — М.: ББТ, 1993)

Saturday, August 4, 2018


Vĩnh cửu • Eternal

Nhất thiết phải chế ngự những thú tính của cơ thể chúng ta, nhưng thế vào đó, người nông nổi lại hiến mình cho các khoái lạc vật chất phù du. Rồi đến lúc cuộc đời anh ta kết thúc như mùa mưa chấm dứt và con người đó trở nên giống dòng sông khô cạn. Cuộc đời chúng ta được dành cho việc đạt mục đích thực sự, đạt sat — cái muôn đời bất diệt. Mặc dù vũ trụ vật chất chẳng có cái gì là sat (vĩnh cửu) cả, nhưng vẫn có thể rút ra lợi nhuận từ hợp đồng không lãi, cái giam cầm chúng ta thế giới này. Tâm trí luôn hướng vào các khoái lạc giác quan hoàn toàn chẳng phải là của được thủ đắc hay ho nhất; song nếu hướng nó vào nội quan thì nó sẽ mang lại cho chúng ta phúc lành tột bậc.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Ánh quang Bhāgavata”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

Although the animal propensities of the body should be minimized, those who are extravagant temporarily overflow in material enjoyment. Nonetheless, as soon as the rainy season of life is over, they become as dry as dry river beds. Life is meant for the right cause, or sat—that which exists for all time. In the material world, nothing is sat, or eternal, but the bad bargain of the material world can be used for the best purpose. The mind dedicated to extravagance is a bad bargain, but one can make the best use of the mind by introspection.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, Light of the Bhāgavata, BBT, 1978)

Животные страсти нашего тела необходимо обуздывать, но легкомысленный человек вместо этого предается эфемерным материальным наслаждениям. Жизнь его тем временем подходит к концу, как приходит конец сезону дождей, и человек этот становится подобен высохшему руслу реки. Наша жизнь предназначена для достижения истинной цели, сат, — того, что никогда не исчезает. Хотя в материальной вселенной ничто не является сат (вечным), из неудачной сделки, заключенной нами в этом мире, можно все же извлечь выгоду. Ум, нацеленный на удовлетворение чувств, — далеко не лучшее приобретение; однако, если направить его вглубь себя, он принесет нам наибольшее благо.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Свет Бхагаваты». — М.: ББТ)

Friday, August 3, 2018


Lạc thú tinh thần • The Spiritual pleasure

Con người ta đại đa số đều tìm kiếm lạc thú vật chất thô lậu. Những người ở cấp phát triển cao hơn thì tìm kiếm lạc thú trong tư biện cá nhân, trong triết học, thi ca hay nghệ thuật. Khác với họ, nhà bhakti-yoga chỉ kỳ vọng lạc thú tinh thần.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Đường tới toàn thiện”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

Most people are hunting for pleasure on the gross material platform. The more advanced search for pleasure in speculation, philosophy, poetry, or art. The bhakti-yogī, however, searches for pleasure on the transcendental platform, and that is his only business.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, Path of Perfection, BBT, 1989)

Большинство людей ищет грубых физических наслаждений. Те, кто стоят на более высокой ступени развития, черпают удовольствие в собственных измышлениях, философии, поэзии или искусстве. В отличие от них, бхакти-йог стремится только к духовному наслаждению.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Путь к совершенству». — М.: ББТ, 2000)

Thursday, August 2, 2018


“Ta là Thượng Đế” • “I am God”

Không phải ai cũng xứng đáng được gọi là người sùng đạo, hay guru. Vì phần lớn mọi người đều u mê, dốt nát nên nhiều kẻ vô lại tuyên bố mình là Thượng Đế và tuyên truyền đủ thứ nhảm nhí dưới danh nghĩa dharma. Nếu có ai đó nói: “Ta là Thượng Đế”, hay “Ta đã thành Thượng Đế nhờ pháp yoga thần bí” thì phải thử thách anh ta. Một tên vô lại tuyên truyền ở Mỹ: “Ta là Thượng Đế, tất cả các người cũng đều là Thượng Đế” và nhờ thế mà y thu được nhiều môn đệ. Một lần, y bị đau răng và tôi hỏi y: “Anh là Thượng Đế kiểu gì vậy nếu anh khốn khổ đến thế với cơn đau răng”. Chỉ có kẻ điên, hay kẻ bịp bợm mới tuyên bố mình là Thượng Đế.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Cơ hội thứ hai”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

It is not that everyone should be accepted as religious or as a guru. Widespread ignorance has given rise to many persons calling themselves God, representing so much nonsense in the name of dharma. When someone says, “I am God,” or “I have become God by mystic yoga,” one should challenge him. In America a man claimed, “I am God, everyone is God,” and thus gathered disciples. One day he was suffering from a toothache, and I asked him, “What kind of God are you that you are suffering so much from a toothache?” Only a lunatic or a cheater claims, “I am God.”
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, A Second Chance: The Story of a Near-Death Experience, BBT, 1991)

Не каждый достоин называться истинно религиозным человеком или гуру. Поскольку большинство людей пребывает в невежестве, многие негодяи провозглашают себя Богом и проповедуют под видом дхармы разные нелепости. Если кто-нибудь говорит вам: «Я — Бог» или «Я стал Богом, занимаясь мистической йогой», обязательно испытайте его. Один негодяй проповедовал в Америке: «Я — Бог, каждый из вас тоже Бог» — и так собрал много учеников. Однажды у него заболел зуб, и я спросил его: «Что же ты за Бог, если страдаешь от зубной боли?» Только сумасшедший или мошенник может провозглашать себя Богом.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Ещё один шанс». — М.: ББТ, 1998)

Wednesday, August 1, 2018


Năng lượng ranh giới • The marginal energy

Có muôn vàn năng lượng khác nhau, nhưng chúng được chia thành ba nhóm là ngoại năng, nội năng và năng lượng ranh giới. Chúng sinh chúng ta thuộc năng lượng ranh giới. “Ranh giới” có nghĩa là thể theo mong muốn, chúng ta có thể ở dưới quyền lực của ngoại năng, hoặc nội năng. Điều đó có nghĩa là chúng ta được tự do lựa chọn.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, “Du hành trong bản ngã”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

There are many energies, but they have been divided into three principal ones: the external energy, the internal energy, and the marginal energy. We living entities are the marginal energy. Marginal means that we may remain under the influence of the external energy or we may remain under the influence of the internal energy, as we like. The independence is there.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupāda, Journey of Self Discovery, BBT, 1991)

Есть много различных энергий, но их принято делить на три основные группы: внешнюю, внутреннюю и пограничную энергии. Мы, живые существа, относимся к пограничной энергии. Термин «пограничная» означает, что мы по своему желанию можем находиться под властью либо внешней, либо внутренней энергии. Это подразумевает свободу выбора.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Путешествие вглубь себя». — М.: ББТ, 1997)

Tuesday, July 31, 2018


Có thể đạt được sự giải thoát • One can at once get liberation

Tạp chí “Trở về với Thượng Đế” và các ấn phẩm khác của phong trào ý thức Krishna có thể mang lại lợi ích to lớn cho tất cả những ai đang hoạt động vật chất. Những cuốn sách này giúp tất cả mọi người chặt đứt gốc cây đa cực sống dai của sự tồn tại vật chất. Chúng sẽ giúp chúng ta từ bỏ tất cả những gì liên quan tới các khái niệm vật chất về cuộc sống và dạy chúng ta cách cảm nhận hương vị của tinh túy tinh thần trong mọi điều. Chỉ có nhờ sự phụng sự tận tụy chúng ta mới có thể nâng được mình lên cấp độ này chứ không thể bằng cách nào khác. Có thể đạt được sự giải thoát (mukti) khi phụng sự như thế thậm chí chỉ trong một đời.
(А. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Khoa học tự nhận thức. — HN, NXB Tôn Giáo, 2014)

Everyone who is engaged in material affairs can derive the highest benefit from the pages of Back to Godhead and the other literatures of this Kṛṣṇa consciousness movement. These literatures help all people sever the roots of the indefatigable banyan tree of material existence. These literatures are authorized to train us to renounce everything related to the material conception of life and to relish spiritual nectar in every object. This stage is obtainable only by devotional service and nothing else. By rendering such service, one can at once get liberation (mukti) even during this present life.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, The Science of Self-Realization, BBT, 1977)

Журнал «Бэк ту Годхед» и другие издания Движения сознания Кришны могут принести огромную пользу всем тем, кто занят материальной деятельностью. Эти книги помогают всем людям срубить под корень очень живучее баньяновое дерево материального существования. Они помогут нам отречься от всего, что связано с материальными представлениями о жизни, и научить нас во всем ощущать вкус духовного нектара. На этот уровень можно подняться только с помощью преданного служения, и никак иначе. Служа таким образом, можно достичь освобождения (мукти) даже в течение одной жизни.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Наука самоосознания», ББТ, 1991)

Sunday, July 29, 2018


Luôn ở bên chúng ta • Always with us

Làm thế nào để thành người có ý thức Krishna ở từng khoảnh khắc của đời mình? Krishna đưa ra cho chúng ta một phương pháp vô cùng dễ: “Con trai của Kuntī à (Arjuna), Ta là vị của nước, là ánh sáng của thái dương và nguyệt cầu, là tiếng đơn âm oṁ trong các mantra Veda; Ta là âm thanh trong thinh không và tài năng trong con người” (“Bhagavad-gītā”, 7.8). Trong câu thơ này, Śrī Krishna giảng giải cách duy trì ý thức Krishna ở mọi lúc và mọi giai đoạn của cuộc sống. Tất thẩy chúng sinh đều uống nước. Mùi vị của nước vô cùng dễ chịu và khi chúng ta đang khổ sở vì khát thì chẳng có cái gì ngoài nước có thể làm dịu cơn khát. Không thể tái hiện được mùi vị của nước tinh khiết trong các điều kiện nhân tạo. Và khi chúng ta uống nước, chúng ta có thể nhớ tới Thượng Đế tức là nhớ tới Krishna. Ngày nào chúng ta cũng buộc phải uống nước và nếu chúng ta làm điều đó với ý thức Thượng Đế thì làm sao chúng ta có thể quên Ngài được? Tương tự như vậy, ánh sáng cũng là Krishna. Các mantra Veda được bắt đầu bằng âm tiết oṁ cũng giúp chúng ta nhớ tới Krishna. Vậy là chúng ta có thể nhớ tới Thượng Đế khi nghe âm thanh, uống nước hay nhìn thấy ánh sáng. Nếu chúng ta phát triển thói quen đó thì chẳng bao giờ chúng ta quên Thượng Đế. Phương pháp của ý thức Krishna là ở chỗ đó. Chúng ta có thể nhớ tới Krishna cả ngày lẫn đêm và Krishna lúc nào cũng sẽ ở bên chúng ta. Dĩ nhiên là bất luận thế nào Ngài cũng luôn ở bên chúng ta rồi, nhưng khi chúng ta nhớ tới điều đó thì chúng ta bắt đầu thực sự cảm thấy sự hiện diện của Ngài.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Đường tới với Kṛṣṇa”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2013)

How is it possible to become Kṛṣṇa conscious in every step of our life? Actually Kṛṣṇa makes it very easy for us: “O son of Kuntī [Arjuna], I am the taste of water. the light of the sun and the moon, the syllable oṁ in the Vedic mantras; I am the sound in ether and ability in man.” (Bhagavad-gītā, 7.8) In this verse Śrī Kṛṣṇa is describing how we can become Kṛṣṇa conscious fully, in all stages of life. All living entities must drink water. The taste of water is so nice that when we are thirsty nothing but water seems to do. No manufacturer can create the pure taste of water. We can thus remember Kṛṣṇa or God when we drink water. No one can avoid drinking water every day of his life, so God consciousness is there—how can we forget? Similarly, when there is some illumination, that is also Kṛṣṇa. When we chant the Vedic mantras which begin with oṁ, we can also remember Kṛṣṇa. In this way when we hear sound, when we drink water, when we see some illumination, we can remember God. If we can do this, then when will we not remember God? This is the process of Kṛṣṇa consciousness. In this way we can remember Kṛṣṇa twenty-four hours a day, and in this way Kṛṣṇa is with us. Of course Kṛṣṇa is always with us, but as soon as we remember this, His presence is factual and is felt.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, On the Way to Kṛṣṇa, BBT, 1983)

Как добиться того, чтобы находиться в сознании Кришны каждое мгновение своей жизни? Кришна предлагает нам очень легкий способ: «О сын Кунти, Я — вкус воды, свет солнца и луны, слог ом в ведических мантрах; Я — звук в эфире и талант в человеке» (Б.-г., 7.8). В этом стихе Шри Кришна объясняет, как сохранять сознание Кришны всегда, на всех этапах жизни. Все живые существа пьют воду. Вкус воды очень приятен, и, когда нас мучит жажда, ничто, кроме воды, не способно утолить ее. Вкус чистой воды нельзя воспроизвести в искусственных условиях. И когда мы пьем воду, мы можем помнить о Боге, то есть о Кришне. Мы вынуждены пить воду каждый день, и если будем делать это в сознании Бога, то как мы сможем забыть о Нем? Точно так же свет — это тоже Кришна. Ведические мантры, начинающиеся со слога ом, тоже помогают нам помнить о Кришне. Итак, мы можем вспоминать о Боге, когда слышим звук, пьем воду или видим свет. Если мы разовьем такую привычку, то никогда уже не забудем о Боге. В этом и заключается метод сознания Кришны. Мы можем помнить о Кришне круглые сутки, и Кришна всегда будет с нами. Конечно, Он и так всегда с нами, но, когда мы помним об этом, мы начинаем и в самом деле ощущать Его присутствие.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «На пути к Кришне», ББТ, 1998)

Saturday, July 28, 2018


Tất cả đều tùy thuộc ở chúng ta • That is up to us

Krishna cho chúng ta quyền lựa chọn: nếu chúng ta muốn cùng Ngài thì Ngài ban cho chúng ta khả năng đó, còn nếu chúng ta muốn sống riêng biệt với Ngài thì Ngài làm cho chúng ta quên mất Ngài. Nếu chúng ta muốn tận hưởng cuộc đời trong sự quên lãng Krishna, quên lãng Thượng Đế thì Krishna sẽ thực hiện ước nguyện của chúng ta, còn nếu chúng ta muốn tận hưởng cuộc đời trong ý thức Krishna, Ngài sẽ giúp chúng ta thành công trên con đường ấy. Tất cả đều tùy thuộc ở chúng ta. Nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta có thể có hạnh phúc không cần tới ý thức Krishna thì Krishna sẽ chẳng phản đối. Yathecchasi tathā kuru. Khi ban lời chỉ giáo cho Arjuna, Krishna bảo: “Ta đã nói hết tất cả cho ngươi. Bây giờ thì hãy hành động như ngươi muốn”. Arjuna liền trả lời ngay tức thì: kariṣye vacanaṁ tava — “Tôi sẽ làm theo ý Người”. Đó chính là ý thức Krishna.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, “Món quà vô giá”. — HN, NXB Tôn Giáo, 2013)

Kṛṣṇa gives us a chance. If we want Kṛṣṇa, He will give us a chance to have Him, and if we don’t want Kṛṣṇa, He will give us a chance to forget Him. If we want to enjoy life forgetting Kṛṣṇa, forgetting God, Kṛṣṇa will give us all facility so that we can forget, but if we want to enjoy life in Kṛṣṇa consciousness, Kṛṣṇa will give us the chance to make progress. That is up to us. If we think that we can be happy without Kṛṣṇa consciousness, Kṛṣṇa does not object to that. Yathecchasi tathā kuru. After advising Arjuna, He simply said, “Now I have explained everything to you. Whatever you desire, you can do.” Arjuna replied immediately, kariṣye vacanaṁ tava: “Now I shall execute Your order.” That is Kṛṣṇa consciousness.
(A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Kṛṣṇa Consciousness: The Matchless Gift, BBT, 1993)

Кришна дает нам право выбора: если мы хотим быть с Ним, Он предоставляет нам такую возможность, если же мы хотим существовать отдельно от Него, Он позволяет нам забыть о Нем. Если мы хотим наслаждаться жизнью, забыв о Кришне, забыв о Боге, Кришна исполнит наше желание, но, если мы хотим наслаждаться жизнью в сознании Кришны, Он поможет нам достичь успеха на этом пути. Все зависит от нас. Если мы думаем, что можем быть счастливы без сознания Кришны, Кришна не станет возражать. Иатхеччхаси татха куру. Дав наставления Арджуне, Кришна сказал: «Я поведал тебе все. Теперь поступай так, как считаешь нужным». И Арджуна сразу же ответил: каришйе вачанам тава — «Я готов исполнить Твою волю». В этом и заключается сознание Кришны.
(А. Ч. Бхактиведанта Свами Прабхупада, «Бесценный дар», ББТ, 1996)